Bộ Công Thương góp ý xây dựng Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường 2020

Thứ hai - 30/08/2021 14:36
Bộ Công Thương vừa có văn bản phúc đáp Công văn của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc góp ý xây dựng Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường (sau đây gọi tắt là Dự thảo Nghị định).

Góp ý cụ thể về 6 nhóm vấn đề quan trọng liên quan đến công tác BVMT ngành Công Thương

Bên cạnh những góp ý chung mang tính tổng quan, Công văn góp ý của Bộ Công Thương đã nêu những ý kiến cụ thể về 6 nhóm vấn đề quan trọng liên quan đến công tác bảo vệ môi trường (BVMT) ngành Công Thương.
 


a) Về chức năng, nhiệm vụ của Bộ Công Thương

Theo Khoản 23 Điều 3 về thuật ngữ cơ quan chuyên môn về BVMT, hiện nay, tại nhiều Bộ/ngành đang có các cơ quan chuyên môn về BVMT để thực hiện công tác BVMT trong các ngành/lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý, do vậy, Bộ Công Thương đề nghị bổ sung các cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường trực thuộc các Bộ/ngành khác (ngoài 03 Bộ: Tài nguyên và Môi trường, Quốc phòng, Công an) như dự thảo Nghị định.

Tại điểm g Khoản Điều 188 về trách nhiệm bảo vệ môi trường của Bộ Công Thương, đề nghị cơ quan soạn thảo sửa đổi thành “g) Bộ Công Thương có trách nhiệm đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường trong chiến lược, quy hoạch, hoạt động đầu tư phát triển ngành, lĩnh vực quản lý, trong các hiệp định, thỏa thuận thương mại quốc tế; Chỉ đạo phát triển ngành công nghiệp môi trường; tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, công tác bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu trong ngành, lĩnh vực quản lý; xử lý, giải quyết các vấn đề môi trường trong phát triển ngành, lĩnh vực quản lý”.

b) Về tái chế, cơ chế ưu đãi sản phẩm thân thiện môi trường và kinh tế tuần hoàn

Về trách nhiệm mở rộng của doanh nghiệp (EPR)

+ Tại Điều 88, 99, 100, đề nghị làm rõ hơn mô hình tổ chức, hoạt động của Hội đồng EPR quốc gia và Văn phòng EPR Việt Nam vì sẽ phát sinh thêm bộ máy tổ chức và biên chế, trong khi các nội dung này không được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường và điều này sẽ đi ngược với chủ trương tinh giản bộ máy, biên chế hiện nay.

Bên cạnh đó, theo Bộ Công Thương, cơ quan soạn thảo cần làm rõ cơ chế hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam (Quỹ BVMT) để thực hiện tái chế sau khi doanh nghiệp đóng tiền vào Quỹ BVMT vì những lý do sau:

Thứ nhất, khi doanh nghiệp nộp tiền vào Quỹ BVMT thì trách nhiệm tái chế bao bì, sản phẩm thải bỏ của doanh nghiệp đã chuyển thành trách nhiệm của Quỹ BVMT và do đó Quỹ phải có trách nhiệm tái chế, trong trường hợp Quỹ không thể thực hiện tái chế thì cần có quy định về xử phạt vi phạm hành chính hay chế tài tương ứng để yêu cầu Quỹ thực hiện trách nhiệm của mình.

Thứ hai, đối với các doanh nghiệp sản xuất các thiết bị điện tử, linh kiện máy móc, tin học, viễn thông, chế phẩm sinh học, xử lý chất thải… thì tái chế không phải là vấn đề khó thực hiện mà vấn đề khó nhất ở khâu thu gom.

Với những lý do nêu trên, Bộ Công Thương đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc, nghiên cứu kỹ hơn về các quy định EPR để có thể triển khai được trong thực tế.

Về kinh tế tuần hoàn, Bộ Công Thương cho rằng, tại Khoản 1 Điều 164, việc xác định các tiêu chí về kinh tế tuần hoàn, tập trung chủ yếu vào mục đích là hạn chế chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, chưa thể hiện rõ nội hàm và đặc trưng về kinh tế tuần hoàn. Trong đó, các tiêu chí quan trọng gắn với hiệu quả kinh tế, cách thức thực hiện kinh tế tuần hoàn dựa trên đổi mới công nghệ, thay đổi mô hình kinh doanh tiêu dùng bền vững theo chuỗi vòng đời sản phẩm còn bỏ ngỏ, chưa làm rõ. Theo đó, quy định về trách nhiệm các Bộ ngành khác, bao hàm Bộ Công Thương, không rõ ràng và phù hợp.
 



c) Về phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường

Khoản 1 Điều 127 của Luật BVMT quy định Bộ, cơ quan ngang bộ “Hướng dẫn, kiểm tra và xây dựng năng lực phòng ngừa, cảnh báo nguy cơ sự cố môi trường thuộc ngành, lĩnh vực quản lý”. Tuy nhiên, tại Khoản 3 Điều 133 Dự thảo Nghị định chỉ quy định “Bộ Công Thương có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường do cháy nổ giàn khoan, đường ống dẫn dầu, khí, tràn dầu, rò rỉ hóa chất độc”, thiếu rất nhiều so với phạm vi quản lý của Bộ Công Thương được Chính phủ quy định tại Nghị định số 98/2017/NĐ-CP ngày 18 tháng 8 năm 2017. Đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc, bổ sung các lĩnh vực, ngành do Bộ Công Thương quản lý để có cơ sở triển khai thực hiện phù hợp với Luật BVMT.

Liên quan đến lĩnh vực hoá chất, hiện nay Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất đã có Chương về các giải pháp phòng ngừa và Chương về các giải pháp khắc phục hậu quả sự cố hóa chất, nêu rõ các giải pháp ngăn chặn, hạn chế nguồn gây ô nhiễm, khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường do sự cố hóa chất gây ra. Do đó, đối với doanh nghiệp hoạt động hóa chất chỉ phải xây dựng và thực hiện Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất thay cho Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường để tránh chồng chéo, tăng thủ tục hành chính gây khó khăn cho doanh nghiệp.

d) Về thông tin, cơ sở dữ liệu môi trường

Cơ sở dữ liệu môi trường cấp bộ là thông tin đầu vào quan trọng trong xây dựng chỉ tiêu thống kê môi trường, chất lượng môi trường, ô nhiễm môi trường và hoạch định chính sách phát triển kinh tế ngành đi đôi với bảo vệ môi trường. Cơ sở dữ liệu môi trường cấp bộ phải bao gồm thông tin về nguồn thải, công tác bảo vệ môi trường… của Chủ dự án, cơ sở. Vì vậy, Bộ Công Thương đề nghị bổ sung trách nhiệm cung cấp, cập nhật thông tin của Chủ dự án, chủ cơ sở đối với cơ sở dữ liệu môi trường cấp bộ, ngành tại Khoản 1 Điều 127 như sau: “Chủ dự án đầu tư, cơ sở có trách nhiệm cung cấp, cập nhật thông tin môi trường quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều 114 Luật Bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật có liên quan vào cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia, bộ, cơ quan ngang bộ và cấp tỉnh”.

e) Về Hồ sơ cấp phép môi trường, ĐTM, ĐMC

Quy định tại Khoản 6 Điều 27 của dự thảo Nghị định là không thống nhất và trái ngược với quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26 tháng 01 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng.

Khoản 1 Điều 26 về trách nhiệm của Chủ dự án đầu tư trong quá trình hoàn thiện báo cáo ĐTM: Đề nghị sửa thành “Trong thời hạn tối đa 12 tháng kể từ ngày có thông báo kết quả thẩm định báo cáo ĐTM, chủ dự án đầu tư hoàn thiện báo cáo ĐTM và gửi cơ quan thẩm định hồ sơ đề nghị phê duyệt báo cáo ĐTM…” vì với thời gian “24 tháng” như dự thảo là quá dài dẫn đến khu vực Dự án sẽ có nhiều thay đổi về hiện trạng môi trường nền, điều kiện kinh tế - xã hội… dẫn đến kết quả thẩm định không còn đảm bảo độ chính xác.

Khoản 1, 2, 3 và 4 của Điều 159 Luật Bảo vệ môi trường 2020 có đề cập tới “Đại diện cộng đồng dân cư” nhưng chưa quy định rõ ai là người đại diện cho cộng đồng dân cư. Do đó, đề nghị dự thảo Nghị định quy định rõ cá nhân hay đoàn thể là đại diện cho cộng đồng dân cư để dễ triển khai thực hiện trong thực tế.

f) Những vấn đề khác

Quy định tại Khoản 3, 4 Điều 21 về phân vùng bảo vệ môi trường là quá rộng, sẽ ảnh hưởng to lớn đến hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp đã và đang đầu tư tại những khu vực này. Đề nghị cơ quan soạn thảo cần có những đánh giá tác động kỹ lưỡng đối với nội dung này, bổ sung lộ trình thực hiện và những quy định chuyển tiếp, bồi thường của nhà nước đối với các doanh nghiệp đã và đang hoạt động và sẽ chịu tác động của quy định này.

Nội dung báo cáo và đăng ký miễn trừ các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy theo quy định của Công ước Stockholm tại Điều 46 dự thảo Nghị định:

Qua rà soát một số hóa chất này đang chịu sự quản lý tại Nghị định số 113/2017/NĐ-CP ngày 09 tháng 10 năm 2017 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hóa chất và thuộc Phụ lục I Danh mục hóa chất sản xuất, kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực công nghiệp, Phụ lục II danh mục hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp của Nghị định 113/2017/NĐ-CP, gồm các hóa chất sau:  

+ Hexabromodiphenyl ether và Heptabromodiphenyl ether (HBDE);

+ Tetrabromodiphenyl ether và Pentabromodiphenyl ether (PBDE);

+ Các axit Perfluorooctane sulfonic, muối của chúng (PFOS) và perfluorooctane sulfonyl fluoride (PFOSF);

+ Perfluorooctanoic acid (PFOA), muối của chúng và các hợp chất liên quan đến PFOA;

+ Các paraffin mạch ngắn chứa clo (SCCP) và hóa chất;

+ Hexabromocyclododecane.

Theo quy định tại Nghị định số 113/2017/NĐ-CP, các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh các hóa chất thuộc Danh mục hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp và Danh mục hóa chất sản xuất, kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực công nghiệp phải được cấp giấy phép và giấy chứng nhận, thực hiện báo cáo hóa chất định kỳ hàng năm và cập nhật thông tin trên cơ sở dữ liệu hóa chất quốc gia, Bộ Công Thương sẵn sàng phối hợp chia sẻ thông tin quản lý các hóa chất nêu trên khi có yêu cầu. Do đó, Bộ Công Thương đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc phương án quản lý đưa ra trong dự thảo Nghị định để đảm bảo phù hợp quy định hiện hành và thực tiễn hiện nay.

Về nguồn lực BVMT:

Tại điều 178. Nguồn lực cho BVMT, Bộ Công Thương đề nghị bổ sung các nội dung về ứng phó biến đổi khí hậu sau: Điều tra, thống kê, kiểm kê phát thải khí nhà kính cho các ngành, lĩnh vực phải kiểm kê khí nhà kính theo Luật BVMT; Xây dựng báo cáo kiểm kê, báo cáo kết quả giảm phát thải khí nhà kính; Xây dựng Kế hoạch giảm phát thải khí nhà kính của ngành/lĩnh vực; Kiểm tra việc tuân thủ quy định về kiểm soát phát thải khí nhà kính; Thẩm định kết quả giảm phát thải khí nhà kính của ngành/lĩnh vực; Xây dựng báo cáo đánh giá tác động của BĐKH đến ngành/lĩnh vực; Xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu về phát thải khí nhà kính của ngành/lĩnh vực; Xây dựng và triển khai thực hiện hệ thống MRV giảm phát thải khí nhà kính của ngành/lĩnh vực.

Bên cạnh đó, tại Phụ lục 6, Bộ Công Thương đề nghị bổ sung thêm loại hình dự án đầu tư cơ sở xử lý chất thải nguy hại vào Danh mục loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường thuộc mức I.

Cần quy định rõ cách thức, công cụ triển khai và trách nhiệm của các Bộ ngành

Luật Bảo vệ môi trường 2020 giao các Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì 22 nhiệm vụ và phối hợp cùng thực hiện nhiều nhiệm vụ khác.

Theo ý kiến của Bộ Công Thương, dự thảo Nghị định chưa quy định rõ cách thức, công cụ triển khai và trách nhiệm của các Bộ ngành để thực hiện các nhiệm vụ được Luật giao (ví dụ: Chưa có quy định cụ thể hóa Khoản 3 Điều 88 Luật BVMT, Khoản 4 Điều 147; quy định chưa rõ ràng, chưa hợp lý Khoản 1 Điều 127 Luật BVMT …).
 

 

Mặt khác, trong những nhiệm vụ các Bộ, cơ quan ngang Bộ được giao chủ trì, có các nhiệm vụ liên quan trực tiếp tới phòng ngừa, kiểm tra, giám sát, xử lý các nguồn bụi, khí thải gây ô nhiễm không khí (khoản 3 Điều 88 Luật); hướng dẫn, kiểm tra và xây dựng năng lực phòng ngừa, cảnh báo nguy cơ sự cố môi trường thuộc ngành, lĩnh vực quản lý (khoản 1 Điều 127 Luật)… trong khi dự thảo Nghị định không bổ sung công cụ kiểm tra, thanh tra chuyên ngành về bảo vệ môi trường cho các Bộ chuyên ngành (trong đó có Bộ Công Thương) để thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với ngành, lĩnh vực quản lý của Bộ.

Do vậy, để đảm bảo đồng bộ quy định pháp luật của Chính phủ và có đủ công cụ quản lý nhà nước thực thi trách nhiệm Quốc hội giao, Bộ Công Thương đề nghị bổ sung trách nhiệm tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra đối với lực lượng thanh tra chuyên ngành, cơ quan chuyên môn bảo vệ môi trường ngành Công Thương. Trường hợp không bổ sung được thì đề nghị cơ quan soạn thảo quy định thêm cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan có trách nhiệm kiểm tra, thanh tra tại Khoản 1 Điều 160 Luật Bảo vệ môi trường với các Bộ, cơ quan ngang Bộ (trong đó có Bộ Công Thương) để các Bộ thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của mình.

 

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 gồm 16 chương 171 điều, được thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

Nguồn tin: moit.gov.vn

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây